Mỗi năm Việt Nam ghi nhận hơn 111.000 người tử vong vì ung
thư, tương đương trung bình gần 5 phút có một người mất vì căn bệnh này. Con số
trên nằm trong bộ dữ liệu toàn cầu GLOBOCAN 2024 của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư
quốc tế (IARC), công bố tháng 7/2026, bao gồm 34 loại ung thư tại 186 quốc gia.
Theo các chuyên gia, tỷ lệ tử vong so với ca mắc mới là chỉ
số phản ánh hiệu quả của hệ thống chẩn đoán và điều trị. Ở Việt Nam, 111.015 ca
tử vong trên 177.404 ca mắc mới cho tỷ lệ tử vong/mắc mới khoảng 63%. Con số
này ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Nhật Bản… chỉ khoảng 35 – 40%, nhờ phát
hiện bệnh sớm hơn và có khả năng điều trị tốt hơn.
Nguyên nhân chính khiến ung thư trở thành gánh nặng tại Việt Nam là nhiều bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn muộn. Trong khi đó, một loạt
trở ngại khiến mục tiêu phòng chống ung thư tại Việt Nam gặp khó khăn. Hệ thống
y tế đang thiếu bác sĩ nội khoa ung thư, bác sĩ xạ trị và đặc biệt là nhân lực
giải phẫu bệnh.
Đồng thời, chi phí điều trị quá cao, ví dụ một ca ung thư
phổi tốn gần 170 triệu đồng một năm, trong khi nhiều thuốc tiên tiến chưa được
bảo hiểm y tế chi trả đầy đủ. Dữ liệu ung thư quốc gia cũng chưa hoàn chỉnh vì ghi nhận tập
trung ở một số cơ sở, thiếu hệ thống liên thông trên toàn quốc, dẫn đến hạn chế
trong việc phát hiện xu hướng mới và điều chỉnh chiến lược, định hướng
chính xác.

Tại Hội thảo khoa học “Ung thư trong kỷ nguyên hội nhập –
Best of ASCO – 2026”, PGS.TS Đào Xuân Cơ, Thứ
trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, ung thư không chỉ là thách thức lớn của y học mà còn
là vấn đề sức khỏe cộng đồng, an sinh xã hội và phát triển bền vững. Hiện nay, y học thế giới đang có những bước tiến vượt bậc về
chẩn đoán phân tử, giải trình tự gene, điều trị đích, miễn dịch và xạ trị chính
xác, từng bước cải thiện tiên lượng và cơ hội sống cho người bệnh.
“Nhưng
với tư cách những người làm khoa học và quản lý y tế, chúng ta phải trả lời một
câu hỏi lớn hơn, những thành tựu ấy đã đến được với bao nhiêu người bệnh? Bao
nhiêu người được phát hiện sớm, điều trị đúng, sống lâu hơn và có chất lượng cuộc
sống tốt hơn?,” Thứ trưởng nói.
Thứ trưởng Bộ Y tế cho rằng chất lượng y tế phải được đánh
giá bằng kết quả điều trị, sự an toàn, chất lượng sống và trải nghiệm thực tế của
người bệnh, thay vì chỉ dựa vào số lượng kỹ thuật hay quy mô đầu tư. Vì thế, Thứ
trưởng đã nêu 5 nhiệm vụ trọng tâm với ngành ung thư.
Thứ nhất, chuyển mạnh từ tư
duy tập trung điều trị sang quản lý toàn diện bệnh ung thư, lấy phòng bệnh và
phát hiện sớm làm nền tảng. Thứ hai, phát triển mạng lưới ung thư quốc gia đồng bộ, liên
thông, phân tầng chuyên môn và lấy chất lượng điều trị làm trung tâm. Theo đó,
cần phát triển những trung tâm ung thư chuyên sâu đủ năng lực làm chủ kỹ thuật
tiên tiến, nhưng đồng thời phải nâng cao năng lực của các bệnh viện vùng, bệnh
viện tỉnh để người dân được tiếp cận dịch vụ phù hợp ngay tại địa phương.

Thứ
ba, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực phát
triển, nhưng phải dựa trên bằng chứng khoa học và hiệu quả thực tiễn. Y học
chính xác, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ sinh học đang mở ra những
cơ hội chưa từng có trong ung thư học.
Thứ tư, kết hợp chặt chẽ tiến bộ chuyên môn với đổi mới quản
trị, hoàn thiện chính sách tài chính y tế và bảo đảm quyền lợi người bệnh.
“Mỗi đồng ngân sách, mỗi đồng từ quỹ bảo hiểm y tế và mỗi khoản chi trả của
người dân đều phải được sử dụng minh bạch, hiệu quả, đúng mục đích,” Thứ
trưởng Đào Xuân Cơ nói. Cuối cùng, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao và từng bước nâng tầm vị thế ung thư học Việt Nam.
Phát biểu tại hội thảo, GS.TS Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện
K cho biết, đơn vị đã tham gia hàng trăm thử nghiệm lâm sàng pha 3 đa quốc gia,
có gần 200 công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín, trong đó hơn 50% thuộc nhóm
Q1, Q2. Đáng chú ý, gần 40 bác sĩ đến từ Mỹ, Singapore, Malaysia, Ấn Độ,
Philippines, Indonesia… đã đến bệnh viện trao đổi và học tập kỹ thuật.
Một trong những nội dung hợp tác được bệnh viện chú trọng là
chuẩn hóa hướng dẫn thực hành lâm sàng. Bệnh viện K cùng Hội Ung thư Việt Nam
đã phối hợp với Mạng lưới Ung thư Toàn diện Quốc gia Hoa Kỳ (NCCN) xây dựng các
hướng dẫn điều trị phiên bản tiếng Việt, phù hợp với điều kiện thực tiễn trong
nước.

Giáo sư Quảng cho biết, bệnh viện mong muốn không chỉ đưa những tiến bộ của
thế giới đến gần hơn với người bệnh trong nước mà còn từng bước chia sẻ kết quả
nghiên cứu của Việt Nam với cộng đồng khoa học quốc tế, qua đó nâng cao chất lượng
điều trị ung thư.
Trong khuôn khổ chương trình, Bệnh viện chính thức ký kết
Biên bản ghi nhớ hợp tác với Mạng lưới Ung thư Toàn diện Quốc gia Hoa Kỳ
(NCCN), công bố thêm 3 Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị Bệnh ung thư của NCCN
phiên bản Việt hóa, hướng tới hoàn thành 10 bệnh ung thư phổ biến của Việt Nam
trong năm 2027.
“Các hướng dẫn được điều chỉnh có tính đến nguồn lực và
điều kiện thực hành tại Việt Nam. Đây là nguồn tài liệu chuyên môn quan trọng
dành cho các bác sĩ ung bướu trên toàn quốc, hỗ trợ bác sĩ đưa ra các quyết định
phù hợp trong suốt quá trình chẩn đoán và điều trị cho người bệnh ung thư”,
GS.TS Lê Văn Quảng nói.
Dù vậy, chia sẻ bên lề hội thảo, GS.TS. Lê Văn Quảng cho rằng
một trong những khó khăn lớn của lĩnh vực ung thư hiện nay ở nước ta là tình trạng
thiếu hụt nguồn nhân lực, đặc biệt tại các địa phương. GS. Quảng cho biết, điều
trị ung thư đòi hỏi đội ngũ nhân lực đa mô thức, phối hợp giữa các chuyên ngành
như xạ trị, phẫu thuật, hóa chất, chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh… mới có
thể bảo đảm tính chuyên sâu.

Bên cạnh đó, việc cập nhật và ban hành hướng dẫn điều trị
cũng đang là điểm nghẽn. Một số bệnh viện
đã chủ động xây dựng, cập nhật phác đồ thông qua hội đồng chuyên môn để đáp ứng
nhu cầu điều trị. Tuy nhiên, khi người bệnh lựa chọn những phương pháp này, chi
phí không được bảo hiểm y tế chi trả. Điều này, khiến khả năng tiếp cận các tiến
bộ điều trị mới của người bệnh gặp nhiều hạn chế.
Diễn ra trong hai ngày 5 – 6/11, hội thảo “Ung thư trong kỷ
nguyên hội nhập – Best of ASCO 2026” gồm 22 phiên, với gần 120 bài trình bày
chuyên môn đến từ các chuyên gia quốc tế và trong nước, trong đó có gần 95% bài
báo cáo được trình bày bằng tiếng Anh.
Hội thảo cập nhật những nghiên cứu nổi bật và kết quả
mới có giá trị từ các nghiên cứu quốc tế, được lựa chọn và thảo luận trong thực
hành lâm sàng. Đây là cơ hội để các bác sĩ, nhà nghiên cứu và chuyên gia ung
thư Việt Nam tiếp cận với những bằng chứng mới, đồng thời cùng trao đổi về khả năng
ứng dụng phù hợp với thực tiễn chăm sóc người bệnh.

