Quy định lập danh sách luật sư công của các cơ quan

Trách nhiệm lập danh sách luật sư công được quy định rõ tại Điều 17 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP ngày 21/9 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công.

Cụ thể, theo Điều 17 Nghị định 364/2026/NĐ-CP, cơ quan thực hiện thí điểm có trách nhiệm lập, cập nhật thông tin thay đổi và đăng tải danh sách luật sư công trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan mình sau khi luật sư công được cấp Thẻ luật sư, trừ trường hợp luật sư công là sĩ quan thuộc lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Thông tin đăng tải về luật sư công bao gồm: Họ và tên; Năm sinh; Số Chứng chỉ hành nghề luật sư, số Thẻ luật sư; Nơi công tác; Lĩnh vực chuyên môn; Các thông tin khác theo quy định của pháp luật.

Cơ quan thực hiện thí điểm có trách nhiệm gửi danh sách luật sư công của cơ quan mình kèm theo các thông tin về luật sư công quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định 364/2026/NĐ-CP trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trên môi trường điện tử đến Bộ Tư pháp.

Trường hợp có thay đổi thông tin quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định 364/2026/NĐ-CP, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh thay đổi, cơ quan thực hiện thí điểm có trách nhiệm gửi thông tin thay đổi đến Bộ Tư pháp theo phương thức quy định tại khoản 3 Điều 17 Nghị định 364/2026/NĐ-CP.

Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được danh sách luật sư công, Bộ Tư pháp có trách nhiệm đăng tải danh sách luật sư công của cơ quan thực hiện thí điểm trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp, trừ trường hợp luật sư công là sĩ quan thuộc lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

Ngoài ra, cũng theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 364/2026/NĐ-CP quy định một buổi làm việc của luật sư công theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Nghị quyết số 24/2026/QH16 được tính là 4 giờ. Trường hợp thời gian làm việc thực tế không đủ hoặc vượt quá 4 giờ thì được tính theo tỉ lệ tương ứng để làm căn cứ chi trả bồi dưỡng.

Các công việc của luật sư công thực hiện để giải quyết vụ, việc làm cơ sở để tính thời gian làm việc bao gồm:

– Nghiên cứu, sao chụp hồ sơ, tài liệu;

– Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, tình tiết liên quan;

– Làm việc với cơ quan sử dụng luật sư công;

– Làm việc với cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ, việc, tham gia tố tụng;

– Làm việc với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;

– Xây dựng phương án giải quyết và chuẩn bị hồ sơ vụ, việc;

– Các công việc khác có liên quan.

Nghị định 364/2026/NĐ-CP này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026 đến ngày Nghị quyết số 24/2026/QH16 hết hiệu lực thi hành.

QUÝ MINH
Tạp chí Luật sư Việt Nam