TỪ VĂN BẢN ĐẾN HIỆN THỰC: THÁCH THỨC NỘI TẠI
Đảng Cộng sản Việt nam và Nhà nước Việt Nam chủ trương
và chỉ đao phát triển triển công nghệ AI tác nhân ngay từ lúc nó phát
sinh. Hệ thống pháp luật về AI bắt đầu được xây dựng ngay từ năm 2023. Tính đến
tháng 9.2026 đã ban hành 17 văn bản pháp quy: nhóm Nền tảng và cốt lõi có
6 luật, nhóm Chuyên AI có 7 nghị đinh, quyết định và thông tư,
và nhóm Liên ngành liên quan tới AI có 4 luật và nghị định.
Sau ba năm hình thành khung pháp lý (KPL) đã bước đầu thể
hiện triết lý và mục tiêu:
chủ động và tích cực phát triển AI; giữ vững độc lập chủ quyền số quốc gia
để phát triển; góp phần vào đa cực hóa quản trị AI trên thế giới; trọng tâm
chiến lược: cân bằng giữa việc quản lý rủi ro và thúc đẩy mạnh mẽ “tự chủ
AI”, bảo đảm “chủ quyền AI quốc gia”; và nguyên tắc lấy con người làm trung
tâm: đặt sự an toàn, quyền riêng tư và quyền con người lên hàng đầu, đồng
thời quy định con người phải luôn có khả năng can thiệp hoặc kiểm soát hệ thống
AI.
KPL đã có nhưng khả năng thực thi đúng và trúng
ra sao và giải quyết các tác động lên các mặt của cuộc sống, kinh tế, xã
hội, văn hóa, an ninh quốc phòng có lợi nhất là một thách thức lớn mà việc
vượt qua có ý nghĩa quyết định thành công của chủ trương.
Giá trị quản trị của KPL tương ứng với thời đoạn trong
đó AI chưa có biến đổi quan trọng. Trên thực tế AI lại biến động rẩt nhanh so với
thời gian ban hành luật pháp và đi vào thực thi. Do đó sự am tường về AI,
sự nhạy bén của bộ máy nhà nước nắm bắt thời điểm ra đời của những AI mới
hoặc nâng cao, cải tiến để KPL không lạc hậu trong công tác quản trị là một thách
thức nội tại không nhỏ. Nội tại là vì nắm bắt và chuyển hóa vào
KPL tùy thuộc vào năng lực của nước đó.
MIỀN AI MÀ KPL XỬ LÝ CHỦ YẾU ĐẾN TỪ BÊN NGOÀI: THÁCH
THỨC TỪ BÊN NGOÀI
Một lý do khiến “miền AI” (là tập hợp các AI mà KPL quốc
gia quy định) biến động nhanh là vì qua hội nhập quốc tế, nhất là hội nhập kinh
tế, các AI chảy vào một quốc gia rất nhanh và đa dạng về nguồn, về lĩnh
vực, mới hoặc nâng cao và thời điểm. Miền AI rất biến động,
tiếp nhận những AI mới, đào thải những AI đã lỗi thời.
Các AI du nhập vào phần lớn là sản phẩm của Big
Tech. Nhóm các tập đoàn, công ty công nghệ số lớn nhất này cạnh tranh
nhau, quyết định hướng phát triển, thời điểm cho ra đời các AI mới tùy theo lợi
ích của họ. Trong bối cảnh đó, mô hình quản trị AI của các nước và nhóm nước đã
được hình thành.
Kể cả những “sảy chân” của họ, như sự cố AI thử nghiệm
“xổng chuồng” tại OpenAI và Anthropic giữa năm 2026, cũng chi phối mô hình quản
trị AI của các nước. Hai vụ AI “xổng chuồng” xảy ra tại OpenAI và tại Anthropic
vào giữa năm 2026 là một minh chứng. Liên minh Châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Trung
Quốc, Liên Bang Nga,
Nhật Bản, Ấn Độ đã phải điều chỉnh ngay mô hình quản trị AI của
mình. Các biện pháp như cơ chế “kill switch” xuyên biên giới, bắt buộc
kiểm toán cách ly vật lý (air-gapped isolation) đối với mọi môi trường Sandbox
thử nghiệm đã được quyết định áp dụng. Nhiều nước chuyển từ “luật mềm”
sang “luật cứng”, sửa đổi Chiến lược AI quốc gia, Luật phát
triển AI sớm lên.
Thỏa thuận Nhà Trắng về Siêu trí
tuệ (WHA_SI) ký kết ngày 29.9.2026 và Sắc lệnh hành pháp 14434 của Nhà Trắng
về việc sử dụng “siêu trí tuệ” (SI) thay AI trong chính quyền Hoa Kỳ là những
ví dụ khác. WHA_SI tuy chỉ là là thỏa thuận tự nguyện, không có hiệu lực pháp lý ràng buộc, chỉ mang tính “ràng buộc về mặt đạo
đức”, song ngoài mục đích chung là trấn an dư luận, qua
đó Mỹ muốn duy trì lợi thế cạnh tranh. Còn Sắc lệnh hành pháp
thể hiện ý đồ củng
cố vị thế bá chủ của Mỹ trong lĩnh vực.
Tốc độ cập nhật kịp thời và đầy đủ KPL quản trị AI rõ
ràng là một thách thức đến từ bên ngoài trong quản
trị AI đối với các quốc gia.
THÁCH THỨC KÉP TRONG QUẢN TRỊ AI
Thách thức nội tại và thách thức từ bên ngoài trong quản trị AI không biệt lập mà
có quan hệ với nhau. Nắm bắt nhanh, đầy đủ các biến động AI từ bên ngoài và hệ
lụy, phản ứng của các quốc gia, sẽ giúp cập nhật các nội dung mà KPL cần kịp thời
sửa đổi bổ sung.
Khả năng giải quyết các thách thức nội tại tốt sẽ giúp
Nhà nước điều chỉnh sát hợp hơn mô hình quản trị AI, tiếp nhận các AI trong những
lĩnh vực mới và hội nhập quốc tế về AI tốt hơn để phục vụ sự nghiệp phát triển
đất nước.
Nói cách khác, thách thức nội tại và thách thức từ bên
ngoài là hai mặt hợp thành thách thức kép đối với Nhà nước, nhất
là Nhà nước các quốc gia phương Nam (Global South), trong quản trị AI để phát
triển đất nước nhanh và an toàn.
ĐỀ XUẤT
Từ phân tích trên đây, để giải quyết tốt thách thức kép trong quản trị
AI, Việt Nam cần:
Theo dõi mô hình quản trị của các nước có ích cho mô
hình của Việt Nam. Trước mắt chắt
lọc từ các phản ứng của các nước sau sự cố “xổng chuồng” tháng 7.2026 các chính
sách mà Việt Nam cần tham khảo. Theo tác giả đó là: (1) không thể chỉ dựa
vào “luật mềm” (Soft Law); (2) kiểm tra hạ tầng sandbox, thay vì chỉ kiểm
tra mô hình; (3) xây dựng cơ chế phản ứng nhanh và phòng thủ chủ động;
(4) bảo đảm chủ quyền công nghệ và đa dạng hóa nguồn cung; (5) yêu cầu
gắn nhãn và truy xuất nguồn gốc nội dung AI; (6) cập nhật chiến lược AI
linh hoạt và nhanh chóng.
Nhanh chóng ban hành các văn bản pháp quy giai đoạn Quý
4 2026 – 2028 theo 4 nhóm chủ đề:
(1) Quản lý rủi ro phải bắt đầu từ kiểm soát hạ tầng; (2) Bảo vệ dữ
liệu, kiểm soát nội dung AI và hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật; (3) Giữ vững
chủ quyền AI, xác định rõ trách nhiệm pháp lý; (4) Bảo đảm quyền quyết định
của con người, bảo vệ người lao động trước AI, thúc đẩy AI phát triển có trách nhiệm.
(*) GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy
ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc
Hội. đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI.

